Lịch sử chính trị của các pharaon Ai – Cập

Thành lập CỔ Vương quốc. Khoảng 3200 TCN các vương qucíc phía Bắc và Nam Ai Cập được kết hợp thành một đơn vị chính trị duy nhất, hiển nhiên là lần thứ hai, mặc dù sự hợp nhất lần thứ nhất chỉ kéo dài trong thời gian quá ngắn. Người sáng lập nhà nước mới theo truyền thuyết là Menes, vì thế mọi người xem ông như người sáng lập Vương triều thứ nhất. Năm vương triều khác tiếp sau theo thứ tự đều đặn cho đến năm 2300 TCN. Trong hai vương triều đầu tiên, kinh đô vẫn còn đặt ở Thinis, Thượng Ai Cập. Vương triều thứ ba chuyển trự sở cai trị đến Memphis trên rìa phía nam của Châu thổ, dể có được lợi thê của một địa điểm trung tâm với nhiều chức năng hành chinh hơn. Kinh dô vẫn dược dặt ở địa diểm này trong khoảng nàm thế kỷ, giai đoạn từ khoảng 2800 đến 2300 TCN do đó được gọi là giai đoạn Memphite, trong khi toàn bộ giai đoạn của sáu vương triều đầu tiên được gọi là giai đoạn cổ Vương quôc.

Xác ướp pharaoh ai cập

Xác ướp pharaoh ai cập

Cai trị cẩ Vương quốc. Sự cai trị của CỔ Vương quốc thật ra không đạt đến mức chính thể chuyên chế cá nhân như người ta thường nghĩ. Sự cai trị này theo chinh trị thần quyền hơn là chế độ chuyên quyền. Chính thể chuyên chế của nhà vua được thực hiện không những nhân danh nhà vua mà còn trong tư cách người dại diện cho thánh thần. Chính thánh thần là sự hiện thân của cõng lý và trật tự xã hội, thánh thần là những người thật sự cai trị, theo quan niệm thịnh hành, nhà vua chỉ là người đại diện cho thánh thần. Dĩ nhiên, thật ra bản thân nhà vua cũng tự xem mình là thánh thần, là con của thần mặt trời Re. Nhà vua được thần dân vô cùng kính trọng đến mức không được phép gọi tên nhà vua, mà chỉ gọi là “Pharaon”, từ “per o” trong tiếng Ai Cập nghĩa là “ngôi nhà lớn” hay “nhà của vua”. Vua bị cấm không dược kết hôn với bất kỳ ai ngoài giao dịch trực hệ với mình, nếu không dòng máu thần thánh mà nhà vua đang mang sê bị nhiễm phải vết nhơ hạ cấp. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng trong tất cả hoạt động chính thức, quyền bính của nhà vua được giới hạn theo luật pháp cổ đại, người ta cho là luật pháp thể hiện ý muòn thần thánh. Nhà vua không được quan trọng hơn luật pháp mà phâì phục tùng luật pháp. Vì thế, không được hiểu lầm chức năng của nhà vua khi so sánh nhà vua, với các’ nhà vua thần quyền trong thời hiện đạì sau này.

Liên minh giáo hội và nhà nước. Không có sự chia rẽ nào giữa giáo hội và nhà nước ở cổ Vương quốc. Thuộc cắp chủ yếu của Pharaon là thầy tế, và bản thân nhà vua cũng là một thầy tế chính. Nhưng nhà vua cũng có nhiều phụ tá khác: tể tướng, người giữ ngân khố hoàng gia, kiến trúc sư chính, người giám sát các công trình công cộng, thẩm phán chính, và 42 nomarch. Nomarch là những thủ hiến cai trị “thành bang” (nome); ảất nước được chia thành nhiều quận địa phương. Ban đầu họ được Pharaon bổ nhiệm, và phải làm theo ý vua, nhưng dần dần họ làm cho chức vụ của mình cha truyền con nôi và ngày càng thâu tóm đặc quyền chủ quyền vào tay mình. Vì nome là những tàn tích còn sót lại của thành phố-thành bang cổ, nên suy nghĩ bề phái vẫn còn rơi rớt và khuyến khích các thủ hiến địa phương bất tuân mệnh lệnh từ chính quyền trung ương.

Trách nhiệm của Pharaon. VỊ trí của Pharaon mang tính cha truyền con nối, nhưng đặc quyền kế vị đi kèm với trách nhiệm. Thông thường thái tử thường phải trải qua thời gian tập sự dưới sự dìu dắt của vua cha hay tể tướng trong vai trò người giám sát việc chung. Vì thế thái tử khí ỉên ngôi như một chính khách được giáo dục và được khai sáng, hiểu nhu cầu trong nước và được dào tạo quản lý các hoạt dộng chung như khai khoáng, xây dựng các công trình công cộng và tưới tiêu. Vì thê thái tử đã được chuẩn bị kỹ trước khi lên ngôi, vì trong tư cách nhà vua, theo tập quán, vua phải dành nhiều thời gian để kiểm tra và quản lý nhiều dự án khác nhau nhằm mục đích gia tãng quyền lợi của đất nước. Thần tính bao bọc nhà vua nhưng Pharaon vẫn phải nỗ lực phục vụ vì phúc lợi chung.

Tòa án vă quá trình xét xử. Những gì vừa nêu về tầm quan trọng của luật pháp Ai Cập cho thấy quá trình xét xử phải theo đúng các quy định của luật pháp. Thực tế đúng như thế. Mặc dù cổ Vương quốc chưa có một giai tầng gồm các thẩm phán chuyên nghiệp, nhưng số quan chức quản lý hành chính đôi lúc phải đảm nhận vai trò của thẩm phán, họ phải học luật và cảm thấy tự hào trong việc xét xử công chính trong các vụ xử quan trọng. Có đến sáu “tòa án”, với nhiều quan chức hành chính khác nhau dược chỉ dịnh làm “thẩm phán” theo từng thời điểm, cấu thành ngành “tư pháp” của chính quyền. Cao nhất trong số các “thẩm phán” là “chánh thẩm phán”, đôi lúc củng đảm nhận chức vụ tể tưóng. Đơn ‘”kháng cáo” cũng có thể gửi đến Pharaon trong một sô trường hợp. Rõ ràng không có giai cấp đẳng cáp nào được miến khỏi phải bị tòa xét xử. Sử sách cho thấy thậm chí trường hợp phản bội trong gia tộc nhà vua cũng bị xét xử tỉ mỉ, tôn trọng quy định của luật pháp, được thể hiện trong các phiên tòa xử những người phạm tội nhẹ. Các Pharaon chưa hiểu được sự khác biệt đáng bị hình phạt nghiêm khắc giữa “tội phạm” chính trị với tội phạm thông thường được các nhà cai trị nhà nước thời hiện đại đưa ra.

Đặc điểm phi quân sự của cổ \ương quốc. Chính quyền cổ Vương quốc (the government of the Old King), được hình thành trên cơ sở hòa bình, không xâm chiêm. Trong khía cạnh này, CỔ Vương quốc là một nhà nước độc đáo trong số các nhà nước cổ dại. Pharaon không có quân đội thường trực, cũng không có bất kỳ thứ gì có thể gọi tà lực lượng dân quân quốc gia. Mỗi nome đều có lực lượng dân quân địa phương, nhưng do các quan chức dân sự chỉ huy, và nói chưng được huy động để dành hết tâm huyết xây dựng các còng trình phục vụ công cộng. Trong trường hợp có nguy cơ bị xâm chiếm, nhiều đơn vị khác nhau ở địa phương tập hợp lại theo lời hiệu triệu của Pharaon và thuộc quyền chỉ huy của một trong số các thuộc cấp dân sự của nhà vua. Vào những thời điểm khác, người đứng đầu chính quyền duy trì lực lượng quân đội theo sự tùy nghi của mình. Người Ai Cập thời CỔ Vương quốc nói chung hài lòng với số phận của mình và để mặc các dân tộc khác. Lý do dẫn đến thái độ này dược tìm thấy trong vị thế được bảo vệ của Ai Cập, trong sự sở hữu đất đai có độ phì nhiêu vô tận, và nhà nước của họ là kết quả của sự cần thiết phải hợp tác thay vì trên cơ sở khai thác.

Kết thúc Cổ Vương quốc. Sau một thiên niên kỷ hòa bình ổn định và khá thịnh vượng, cổ Vương quốc đi đến hồi kết vào khoảng năm 2300 TCN. Một sô” nguyên nhân như sau: sự tiếm đoạt quyền lực của các nomarch, sự dai dẳng của chủ nghĩa phân lập, hay quan điểm “quyền của nhà nước”, sự phát triển chủ nghía cá nhân, và gánh nặng tài chính do các Pharaon áp đặt lên thần dân với các dự án đại quy mô trong phát triển đất nước. Giai đoạn tiếp theo sau gọi là Thời kỳ phong kiến. Ngoài khoảng thời gian trật tự và phát triển ra là giai đoạn hỗn loạn, sự tâng thêm quyền lực của giới quý tộc, cuộc cách mạng xã hội của quần chúng, và sự xâm chiếm của người Da đen và các bộ tộc châu Á. cổ Vương quốc vẫn chưa kết thúc cho đến khi Vương triều thứ 11 ra đời khoảng năm 2100 TCN – một sự kiện mở ra một giai đoạn quan trọng kế tiếp trong lịch sử Ai Cập, gọi là Trung Vương quốc.

Trung Vương quốc (2100 – 1788

TCN). Chính quyền Trung Vương quốc yếu hơn nhiều so với chính quyền cổ Vương quốc. Các vương triều Pharaon tiếp tục sự cai trị trên danh nghĩa, nhưng quyền bính ngày càng rơi vào tay các nomarch và giới quý tộc thuộc đẳng cấp thấp hơn. Vinh quang của những người này là phải cai trị như những bạo chúa nhân từ, hoạt dộng trong địa hạt thẩm quyền! các chức nàng đúng ra của một người dứng đầu nhà nước. Có lúc họ cũng bị quần chúng tấn công, đến mức sau năm 2000 TCN các Pharaon trong Vương triều thứ 12 mới có khả nàng khôi phục quyền lực trước kia của mình. Bản thân thần dân cũng được tưởng thưởng bằng việc được bổ nhiệm vào các chức vụ cai trị và được cấp đất cũng như đặc quyền trong các ngành nghề cụ thể. Toàn bộ dân số, bất kể giai tầng, cho đến thời điểm này có vẻ chỉ có vài người được hường đặc quyền. Vi lý do này, chính quyền của Vương triều thứ 12 đôi khi được gọi là vương quốc dân chủ đầu tiên trên thế giới. Giai đoạn Vương triều này cai trị là thời hoàng kim của thành tựu tri thức và công bằng xã hội, mặc dù hình thức cai trị thần quyền vẫn còn tồn tại.

Sự xám lăng của người Hykso. Cuối Vương triều thứ 12, Ai Cập bước vào

một kỷ nguyên khác với sự xâm lăng của nước ngoài và hỗn loạn trong nước kéo dài hơn hai thế kỷ, từ 1788 đến 1580 TCN. Sử sách đương đại có được không nhiều, nhưng dường như cho thấy rằng sự rối loạn trong nước là do kết quả đàn áp cuộc nổi dậy của giới quý tộc. Một lần nữa quyền lực bị sút giảm đến mức bất lực, và phần lớn sự tiến bộ xă hội trong thời đại trước đã bị triệt phá. Khoảng 1750 năm TCN vùng đất này bị người Hykso, hay “các vị Vua Chăn cừu”, một bộ lạc du cư hỗn hợp xuất xứ ở Tây Á, xâm chiêm. Họ mở rộng sự thống trị trên danh nghĩa trên khắp đất nước, mặc dù chủ quyền thực sự của họ chỉ giới hạn trong vừng Châu thổ. Tài nghệ quân sự của họ thường được quy cho số chiến xa và ngựa, nhưng chiến thắng của họ chắc chắn dễ dạt hơn do sự chia rẽ ở người Ai Cập. Sự thống trị của họ có ảnh hưởng sâư sắc trong lịch sử Ai Cập. Không những họ giúp cho người Ai Cập quen với các phương pháp chiên tranh mới, mà còn khiến cho họ cảm thấy sự bất bình chung khi đối mặt với chính thể chuyên chế nước ngoài, cũng như giúp người Ai Cập quên đi sự bất đồng và thống nhất vì sự nghiệp chung. Vì thế con đường khòi phục một chính quyền mạnh trên toàn quốc đã được khai thòng.

Đánh đuổi ‘người Hykso và thành lập Đế chế. Gần cuối thê kỷ 17 TCN, các nhà cai trị Thượng Ai Cập phát dộng cuộc khởi nghĩa chống lại người Hykso, một cuộc vận động sau cùng được hầu hết các cư dân bản địa sống trong thung lũng tham gia. Năm 1580 tất cả những kẻ xâm lãng không bị giết chết hết hay bắt làm nỏ lệ mà bị đánh đuổi ra khỏi đắt nước. Anh hùng trong chiến tháng này, Ahmose I, người sáng lập Vương triều thứ 18, lúc này trở thành một bạo chúa ở Ai Cập. Chế độ do ông thành lập vững chắc hơn bất kỳ chế độ nào cho đến thời điểm đó. Trong sự nổi dậy của chủ nghĩa dân tộc di kèm với cuộc chiến chống lại người Hykso, chủ nghĩa yêu nước địa phương bị triệt tiêu cùng với quyền lực của giới quý tộc. Hầu hết các nomarch đều phản đối sự lẽn ngôi của Ahmose, thắng lợi cuối cùng của ông khiến họ không thể trụ vững ở vị trí hiện có, và buộc họ không còn cách nào khác hơn việc từ bỏ sự khẳng định chủ quyền.

Sự phát triển chủ nghĩa để chế.

Giai đoạn tiếp theo sau khi Ahmose lên ngôi được gọi ià giai đoạn Đế chế, kéo dài từ năm 1580 đến 1090 TCN, trong thời gian này Ai Cập do ba vương triều gồm nhiều Pharaon kế vị nhau liên tiếp, thứ 18, thứ 19, thứ 20, cai trị. Không còn thực thi chính sách nhà nước theo chủ nghĩa hòa bình và biệt lặp nữa, thay vào đó là tinh thần chủ nghĩa đế chế xâm chiếm nhanh chóng thinh hành trên cả nước. Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi này không phải tìm kiếm đáu xa. Nhuệ khí quân sự do cuộc chiến thành công chống lại người Hykso tạo ra, kích thích sự thèm muốn, muốn có thêm nhiều chiến thắng nữa. Một cỗ máy quân sự khổng lồ được hình thành để đánh đuổi kẻ xâm lăng, được xem như một điều đi liền chứng tỏ có giá trị đến mức không thể loại bỏ quyền lực của Pharaon ngay được. Ngoài ra, còn có nhiều nỗi lo sợ, cho dù có thật hay chỉ tưởng tượng, những cuộc xâm lăng mới từ Tây A.

Sự xăm chiếm của người Ai Cập.

Bước đầu tiên trong chiều hướng của chính sách mới được nhiều người kế vị Ahmose thực thi, trong việc đột kích trèn diện rộng vào Palestine và khẳng định chủ quyền ở Syria. Sự khao khát thành lập đế chế đạt dỉnh điểm một vài năm sau này trong vương triều Thutmose III, lên ngôi năm 1479 TCN. Bằng một trong số những đạo quân đáng gờm nhất thời cổ dại, nhà vua nhanh chóng dập tắt tất cả sự đối kháng ở Syria và sau cùng trở thành lãnh chúa cai quản một lãnh thổ mênh mông trải rộng từ sông Euphrates đến các vùng có lượng mưa như trút nước của sông Nile. Người Phoenicia, người

 

Canaan, người Híttite, và người Assyria cồng nhận quyền bá chủ của nhà vua hoặc phải nộp cống vật. Nhưng nhà vua chưa hề thành công trong việc biên các dân tộc bị đánh bại thành thần dân trung thành với mình, và cái chết của nhà vua là dấu hiệu mở đầu cuộc khởi nghĩa lan rộng ở Syria. Các nhà vua kế vị sau này đàn áp cuộc khởi nghĩa và tìm cách để kết hợp đế chế lại với nhau, nhưng vẫn không thế’ tránh được tai họa. Sáp nhập nhiều lãnh thổ hơn là cai trị thành công, dòng chảy tài sản đổ vào Ai Cập làm suy yêu cấu trúc quòc gia qua việc nuôi dưỡng nạn tham nhũng và xa hoa, trong khi nhiều cuộc khởi nghĩa liên tục của các dẫn tộc bị đánh bại cuối cùng làm mất dần sức mạnh của nhà nước vó phương phục hồi. Vào thế kỷ 12 TCN, hầu hết các tỉnh bị xâm chiếm đều đã bị mất vĩnh viễn.

Sự cai trị Đế chế. Sự cai trị Đế chế cũng giống như sự cai trị cổ Vương quốc, ngoại trừ mang tính chất chuyên chế hơn. Sức mạnh quán sự mang tính chất thống nhất quốc gia lúc này là nền tảng cho sự cai trị của Pharaon. Một đạo quân chuyên nghiệp thường trực đến mức thần dân phồi kính sợ. Con trai cổ của nhà vua, nếu ở thời cổ Vương quốc lúc này đang trong thời gian tập sự, trong vai trò của tể tướng, đang giữ chức vụ cao nhất trong quân đội thường trực. Hầu như không còn dấu vết gì của quyền bính địa phương nữa. Quốc gia được chia thành hơn 50 đơn vị hành chính, phần lớn trong số này hoàn toàn chuyên quyền, cai quản mồi đơn vị là một “bá tước” hay thả hiến được bổ nhiệm như người đại diện trực tiếp cho sự cai trị của nhà vua. Hầu hết giới quý tộc trước đây lúc này trơ thành triều thần hay thành viên trong hệ thống quan liêu của nhà vua dưới sự thông trị hoàn toàn của nhà vua. Pharaon vẫn chưa phải là quốc vương thần quyền, nhưng mức độ qưyền lực. trên thực tế bắt đầu gần với mức độ quyền lực của các bạo chúa thời hiện dại sau này.

Pharoon cuối cùng. Người cuối cùng

trong số các Pharaon vĩ dại là Ramses III, cai trị từ năm 1198 đến 1167 TCN. Kế vị nhà vua là những người không có khả nảĩìg của một Pharaon theo đúng nghĩa của vị trí này. Giữa thê kỷ 12 TCN, Ai Cập trở thành miếng mồi ngon cho vô sô các cuộc xâm chiếm từ các bộ tộc man di, tình hình xà hội Ai Cập cũng trên dà suy đồi. Người Libya và Nubia đầy rẫy khắp Ai Cập và dần dần hạ thấp giá trị của các chuẩn mực văn hóa. Đồng thời, bản thân người Ai Cập dường như mất đi tài năng sáng tạo của mình, trí tuệ của họ dường như bị sức quyến rả của ma thuật và mê tín làm cho chệch hướng, và kết quả chắc chắn là chủ nghĩa hình thức tôn giáo ở dạng sơ khai chiếm lĩnh sinh họat trong nước. Để đạt đến sự bất tử bằng công cụ ma thuật lúc này ỉà quan tâm chung của mọi người thuộc mọi giai tầng. Quá trình sa sút càng nhanh do quyền lực ngày càng tãng của giới thầy tế, sau cùng họ tiếm đoạt đặc quyển của nhà vua và ra các sắc lệnh của Pharaon.

Ai Cập sụp đổ. Từ giữa thế kỷ 10 đến gần cuôì thế kỷ 8 TCN, một vương triều những người man rợ Libya chiếm ngai vàng Pharaon. Tiếp theo sau người Libya là người Ethiopia hay người Nubia, đến từ vùng hoang mạc phía tây Thượng sông Niỉe. Năm 670 TCN, Ai Cập bị người Assyria xâm chiếm, họ thành công trong việc duy trì ưy thế của mình chi được 8 nãm. Sau khi sự cai trị của người Assyria sụp đổ vào nàm 662, người Ai Cập giành lại độc lập, và tiếp đến là thời kỳ phục hưng rực rỡ. Tuy nhiên, sau cùng tất phải kết thúc, vì vào nàm 525 TCN, Ai Cập bị người Ba Tư xâm chiếm. Nền văn minh cổ dại không bao giờ được hồi sinh.

Leave a Reply