Bà Trắng – Mé Sar

Trong vàn hóa Khơme cũng có quan niệm vè Bà Đen – Neang Khmau và Bà Trắng – Mé Sar, mả theo Lê Hương, trong bức tranh thò Neak Tà của ngưòi Khơme ỏ ao Bà Om (xã Nguyệt Hóa, Chủu Thành, Trà Vinh), thi Bà Đen và Bà Trắng đứng haỉ bên Neak Tà, tay cầm cây gậy đầu rắn, tay kia cầm quạt và là hộ thần của Neak Tà. Có thể, từ quan niệm Bà đen, Bà trắng này của người Khơ me, mà đã được Việt hóa trong việc thò Bà Mặt đcn và Bà Mặt trắng ớ điện thò Linh Sơn Thánh Mầu. Chi có khác là ó điện thò này, Bà Mặt đen là linh tượng của Linh Sơn Thánh mẫu, còn Bà Mặt trắng lại là Bà Chứa XU mà thôi.

>Khóa luyện thi Violympic:Xem tại đây

Theo chúng tôi, tên gọi Bà Đen (Muk Juk) trong vãn hóa Chăm và tên gọi Bà Đen (Neang Khmau) trong văn hóa Khome đều tó nguồn gốc tủ văn hóa Bàlamôn giáo của Ân Độ.

>>Xem thêm các môn học chung

Bàlamôn giáo từ Ân Độ ảnh hưỏng vào Đông Nam Á chủ yếu Balamôn giáo Shiva mà biểu tượng là linga mặt nguòi, trong đó Sakti (tính lực) cúa Shiva là Uma (thể hiện rỏ ớ ngưòì Chăm) và Kaỉi (thổ hiện rõ ỏ ngưòi Khơme). Nói cách khác, Shiva có nhiều Sakti, thể hiộn nhiếu khía cạnh khác nhau của chủ thần Shiva. Cũng có ý kiến cho rằng, Kali (Bà đen) ỏ người Khơme gắn với Vìsnu hơn là vói Shiva. Đến đây chứng ta có thể rút ra nhận xét, dù gắn Bà Đen với Sakti của Shiva hay Visnu, thì một điều không thể phủ nhận được là cái gọi là Bà Đen trong văn hóa Chàm (Uma) hay trong văn hóa Khome (Kali) đều gắn liền vói việc kết hợp giửa ảnh hướng ngoại sinh cứa văn hóa Bàlamôn giáo Ân Độ với các yếu tố nội sình thờ nứ thần bản địa.

Gắn liền với yếu tố “đen” trong cái gọi là Bà Đen trong văn hóa Chăm và Khơme, chúng ta còn có một mắt xích nữa, đó là đền thờ Bà Rá (một tên gọi khác của Bà Đen ỏ Phước Long (Bình Phước). Trên điện thần của ngôi đền thờ Bà Rá là thần chủ ngôi đền này, còn phối thò Linh Son Thánh Mầu Bà Đen, mà theo quan niệm cứa ngưòi dân ỏ đày, Bà Rá và ĩ .inh Son Thánh Mầu Bà Đen ỏ Tây Ninh chính là hai chị em. Như vậy, đến đây chúng ta có chuỗi các vị nủ thần mang tên “đen” suốt tù đông sang tây, đó là Pô Inư Nưgar (Muk Juk-Bà đen) của Chăm – Bà Rá có thể là Neang Khmau của Khơme ? – Linh Sơn Thánh Mau Bà Đen (Kali, Ncang Khmau) của Kho me.

Điều này là dể hiểu khi mà chứng ta xem xét địa bàn Phước Long và Tây Ninh, nơi đây đều có sự hiện diện của người Khơme và người Chăm đến đây sống chung với cư dân Stiêng vốn là cư dân bản địa ỏ vùng giáp ranh biên giới này. Sau này, tủ cuối thế kỷ XVII, người Việt di cư tủ miền Trung, mang theo tâm thức thờ thánh Mau Thiên Ya Na, một sản phẩm hỗn dung Việt – Chăm vào vùng đất mới.

Cũng phải nói thêm rằng, nếu chỉ có nguyên chất Khome và Chăm và tất nhiên dằng sau nó là cái gốc gác xa xưa từ Ân Độ giáo không thôi thì vẫn chưa thể tạo nên Bà Đen – Linh Sơn Thánh Mẫu, mà còn cần sự hỗn dung, chắt lọc, tái tạo của lớp văn hóa Viột.

Theo nhửng tư liệu có được thì nhủng lớp cư dân Việt từ Trung Bộ vào Nam Bộ khoảng thế kỷ XVI. Với các nhóm cư dân này, họ vẫn mang theo tâm thức thờ Nứ thần và Mầu thần tử quê hương xa xưa tận Bắc Bộ, nhưng đặc biệt, tử sau thòi Nhà Lý, khi người Việt nam tiến vào Trung Bộ, cái tâm thúc thò Mầu ấy dã ít nhấl một lần pha trộn, hỗn dung với tín ngưởng thờ Mau của người Chăm với dạng thức thò bà Mẹ Xứ Sở Pô Inư Nưgar, mà sự hỗn dung và tiếp biến ấy mạnh mẽ tới mức, tử đó tạo nên linh tượng Thiên Ya

 

Na – Bà Chúa Ngọc mang chất Việt-Chăm. Mà như phần trên chứng ta đã phân tích, điều đó mang nhiều nét tương đồng cả về độ sâu và độ rộng của tín ngưỡng thà nứ thần, mẫu thần của cu dân bán địa ỏ Nam Bộ.

Trên cái nền tương đồng như vây, người Việt ỏ vùng dông Nam Bộ, đặc biệt là ỏ vùng Tây Ninh dã một lần nửa nhào nặn biếu tượng Bà Đen mà gốc gác tù nền văn hóá Chàm, Khome thành Lỉnh Sơn Thánh Mảu mang đậm chất Việt hơn. Đó là lớp văn hóa mang đậm tính Phật giáo và Nho giáo qua câu chuyện truyền thuyết về Nàng Đênh và Lý Thị Thiên Hương.

Một chi tiết chúng ta cần lưu ý là tính chất Phật giáo ó Linh Sơn là khá đậm và khá cổ xưa. Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí khi nói về ngọn núi thiêng này, ngoài mô tả hình dạng, độ cao đột ngột của nó giữa vùng đồng bằng đông Nam Bộ, thì ông còn ghi nhận trên núi đó có chùa Vân Sơn, mà chưa nói gì đến điện thò Bà Đen, điều đó chỉ báo cho chúng ta thấy, việc thờ Bà Đen hình thành muộn hon ỏ giai đoạn sau này.

Truyền thuyết Nàng Đênh kế rằng, nàng là con một ông quan tri huyện ỏ vùng Trảng Bàng, nàng có nước da ngăm đcn. Từ nhỏ, nàng đã có lòng mộ đạo, thường đi lẽn chùa lể Phật. Một lần, Nàng Đênh lên núi, giữa dường nàng bị cọp vồ. Linh hồn của nàng báo mộng cho nhà sư tu ỏ chúa Linh Sơn (Vân Sơn), nên nhà sư đả đi tìm xác nàng, làm lễ mai táng, lập điện thờ phụng ớ Điện Bà. Trong truyền thuyết này, ngoài cái tên Nàng Đênh, mà truy gốc ra có thế gắn với – Nàng Đinh, Bà Đen – Bà Đinh, cùng vói nước da đen của nàng, gọi cho ta cái chát nhân chứng Khome, thì ổ đây thể hiện sự kết hợp giủa tín ngưỡng dân gian thò nủ thán vả Phật giáo, một sự kết họp khá chặt chẽ mà điện thần thò trong chùa Hang trên ĩ-ình Sơn, cũng như sự kết họp hài hòa giửa thà Mẫu thần vả thờ Phật trên toàn bộ quần thể di tích Linh Sơn Bà Đon đã nói lên điều đó. Đây cũng là môtip két hợp mang tính kinh điển, mà chúng ta có thể thấy ớ huyền thoại Bà Chúa Ba ớ động Hương Tích, cũng như truyền thuyết công chúa Liễu Hạnh trong trận Sòng Sơn Đại Chiến

Một lớp Việt hóa Bà Đen nữa, mà lóp này có lẽ xuất hiện muộn hon nứa, chủ yếu tù thòi Nhà Nguyễn, thể hiện qua truyền thuyết về Bà Đen – Lý Thị Thiên Hương. Truyện kể rằng : Ngày xưa trcn ngọn Núi Một (Bà Đen) có một tượng Phật rất linh thiêng. Dân chúng rủ nhau chặt cây, phát dọn đưòng lên núi cúng Phật. Vì đưòng có nhiều cọp beo, nên ngưòi đi lễ thường phải đi theo tửng đoàn. Có một cô gái, tên là Lý Thị Thiên Huong, gốc người Trảng Bàng, văn hay võ giỏi, cũng thường lên chùa lễ Phật. Trong làng có một chàng trai, tên là Lê Sĩ Triệt đem lòng yêu thương cô.

Vì cô có nhan sắc, một ông quan địa phưong mưu mô bắt cô về làm thiếp. Y giao cho một thày vỏ thực hiện dã tâm ấy. Lúc cô đang bị thày võ khống chế, thi Lê sỹ Triệt xông ra cứu cô thoát nạn. về nhà, cô thuật lại sự tình cho cha mẹ, khiến cha mẹ thuận tình gả cô cho chàng trai đả cứu mạng. Thời gian đó, Võ Tánh đang chiêu binh giúp cho Nguyễn Ánh đánh lại nhà Tây Sơn, Lê Sỹ Triệt ra tòng quân. Một hôm, cô lên núi cầu Thần Phật cho chồng chưa cuói trỏ về thì bị bọn cướp vây bắt. Cô chạy thoát vào rủng trốn, rồi mất tích luôn.

Sang đòi Minh Mạng, có một vị hòa thượng chủ trì ngôi chùa trên núi Linh Sơn. Một hôm đang niệm Phật, hòa thượng bỗng thấy một cô gái xinh đẹp hiện ra truổc mắt, nói “Ta đây họ Lý, khi 18 tuổi bị rượt bắt, nên ngã xuống vực chết, nay đắc quả, xin hòa thượng xuống triền núi phía đông nam tìm thi hài của ta và chôn cất giùm”. Vị hòa thượng y lời đi tìm xác cô để dem về chôn cất.

Câu chuyện dồn dại đã tới Thượng Quốc Công Lê Văn Duyệt, ông bèn tìm hiểu hư thực và dâ dâng sớ về Triều về sự kiện trên, Gia Long đã ra sắc phong cho cỏ gái họ Lý là “Linh Son Thánh Mầu”. Hiện tại, noi diện Bà Đen còn lưu giủ sắc phong vào năm Báo Đại thứ 10 (1935) với mỹ hiệu “Dực Báo trung hung linh phủ chi thần”, thuộc hàng các thần linh chính thống như các công thần và thành hoàng làng. Đến năm Tự Đức thứ 3 (Ị850), ngọn núi này có tên gọi chính thức là núi Bà Đen. Như vậy, cũng giống như rác vị Mầu thần khác, như Thánh Mẫu Liễu Hạnh, thánh Mầu Thiên Ya Na, triều đình phong kiến với cái nhìn mang đậm chắt Nho giáo đă phong thần cho Bà Đen với phẩm chất không chỉ là mộ đạo Phật mà là Liệt nữ trung quăn. Sự thùa nhận mang tính quan phương này, thì Bà Chúa xư tuy được thờ phụng rộng răí hon nhưng lại không có được sự thủa nhận về phía triều đình Nho giáo.

Cũng lại là một mô thức Việt, ngày nay ngưòi ta đến Linh Sơn Bà Đen nhìn thấy ngọn Núi Bà và đối diện với nó là Núi Cậu, một cặp đôi có phần khống cân xứng, nhưng phần nào cũng cho thấy tâm thức dực / cái, cha /mẹ, ông / bà, mà ó miếu Bà Chứa Xứ An Giang (Núi Rà Chiia xư / Núi ông Thoại Ngọc Hầu) cũng như ỏ Gò Tháp (Gò Bà Chúa Xứ và gò ông Thiên Hộ Dương).

Nhu vậy lả trải qua một quá trình thâu nhận và hỗn dung giũa các yếu tố bản địa và nhứng ảnh hướng nhiều tầng lớp của Bàlamôn giáo, Chăm, Khơme và cuối cùng là Việt, Linh sơn Thánh Mầu Bà Đen, một vị Mẫu thần đa văn hóa dâ dần hiện rõ vào cuói thố kỷ XIX dầu XX.

 

 

Leave a Reply